Chiến lược phòng thủ chủ động và chống thâm nhập của Trung Quốc
Bài đã được đăng trên Itimes.vn
Giới quan sát và các nhà chiến lược Mỹ đã khái quát hóa chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc là chiến lược chống thâm nhập và từ chối khu vực, coi đây là chiến lược bao trùm một phạm vi rộng lớn tư duy chiến lược của nước này.
Bài phát biểu của Oriana Skylar Mastro, Đại học Princeton, New Jersey
Các trụ cột chính trong Chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc
Khái niệm “phòng thủ chủ động” xuất hiện trong “Cương lĩnh quân sự quốc gia cho thời đại mới” của Trung Quốc. Về cơ bản, đây là những nguyên tắc và định hướng tổng quan phục vụ việc hoạch định và quản lý quá trình phát triển các lực lượng vũ trang Trung Quốc. Phòng thủ chủ động là một quan điểm thực tiễn trong số những nguyên tắc đó, cho rằng Trung Quốc sẽ chỉ tham chiến để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước mình. Dưới ánh sáng của những nguyên tắc định hướng này, Trung Quốc đang trang bị các khả năng nhằm chống lại, từ chối, phá hủy và làm chậm lại tốc độ triển khai các lực lượng Mỹ tới chiến trường khi xảy ra xung đột. Bởi vậy, giới quan sát và các nhà chiến lược Mỹ đã khái quát hóa chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc là chiến lược chống thâm nhập và từ chối khu vực. Như vậy có thể nói rằng chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc bao trùm một phạm vi rộng lớn tư duy chiến lược của nước này.
Chiến lược này được khái quát thành 4 trụ cột chính:
Thứ nhất, về mặt chính trị: Khai thác các điểm yếu hiện hữu về sự hậu thuẫn chính trị và quyết tâm của các nước đồng minh, bạn bè của Mỹ để giữ Mỹ bên ngoài vùng xung đột.
Thứ hai, về mặt địa lý: Gia tăng khoảng cách và thời gian cần thiết để Mỹ huy động lực lượng đến vùng tác chiến.
Thứ ba, về mặt quân sự: Làm suy giảm khả năng quân đội Mỹ tiếp cận vào các môi trường chống thâm nhập.
Thứ tư là tự kiềm chế: Làm cho sự dính líu phải trả một giá đắt tới mức Mỹ không tham gia vào xung đột.
Từ nhiều năm nay, các chuyên gia phân tích Mỹ thường tập trung chủ yếu vào hai khía cạnh là địa lý và quân sự của chiến lược chống thâm nhập. Về trụ cột địa lý, việc các bài viết của Trung Quốc đều tập trung vào chủ đề tấn công mạng cũng như vụ thử nghiệm vũ khí chống vệ tinh năm 2007 là những dấu hiệu ám chỉ việc tăng cường khả năng làm hạn chế thời gian các lượng Mỹ can dự.
Các nội dung của trụ cột quân sự cũng đã thay đổi trong những năm gần đây. Năm năm trước, có thể Trung Quốc chỉ tập trung áp dụng chiến lược phi đối xứng vào điểm nóng Đài Loan, nhưng dường như họ đang mở rộng logic này sang các xung đột tiềm tàng ở các vùng biển phía Nam và Đông Trung Quốc. Một sự thay đổi lớn nữa trong trụ cột quân sự là tầm với quân sự. PLA hiện đã sở hữu những hệ thống được cho là có thể can dự tới các mục tiêu đối phương nằm cách bờ biển Trung Quốc 1.000 hải lý. Các tên lửa của Trung Quốc hiện nay có thể tấn công các mục tiêu bên ngoài cái mà các nhà chiến lược Trung Quốc gọi là “chuỗi đảo thứ nhất” và thậm chí có thể đe dọa cả “chuỗi đảo thứ hai”.
Các đề xuất giải pháp đối phó của Mỹ
Phản ứng hiện tại của Mỹ đối với những phát triển mới chủ yếu dựa vào triển khai các tên lửa chống tên lửa đạn đạo và phát triển các khái niệm hoạt động như “Tác chiến phối hợp không quân - hải quân” (AirSea Battle).
Nói chung, tôi đồng ý rằng Mỹ nên bảo vệ con người và tài sản trước các cuộc không kích bằng tên lửa nhưng tôi lo ngại chúng ta đang tập trung vào phạm vi quá hẹp là trụ cột quân sự và địa lý trong chiến lược đó của Trung Quốc. Việc tập trung này sẽ nảy sinh vấn đề khi thấy rằng trọng tâm của chiến lược nằm trong binh pháp của Tôn Tử: “Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt”. Câu nói này cho thấy một thực tế rất cơ bản: Đối phó với quá trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc bằng trang bị thêm máy bay, tàu chiến, vụ khí mới, thậm chí áp dụng những khái niệm tác chiến mới như tác chiến phối hợp không quân - hải quân (AirSea Battle) là cần thiết nhưng những yếu tố đó chưa đủ để giải quyết trụ cột chính trị và trụ cột tự kiềm chế trong chiến lược của Trung Quốc.
Không quá khi nói rằng đây là hai trụ cột quan trọng nhất xét tới thực tế rằng Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận thất bại quân sự nếu họ có thể đạt được các mục tiêu chính trị.
Chúng ta phải chấp nhận một thực tế rằng khi xung đột xảy ra với Trung Quốc, chúng ta sẽ không thể nào bảo vệ được hết các lực lượng Mỹ và tránh tổn thương cho họ. Các không gian toàn cầu sẽ vẫn tiếp tục là một môi trường cạnh tranh khốc liệt bất chấp chúng ta có khả năng chống lại các vũ khí và phương tiện mới của Trung Quốc. Chúng ta phải xác định liệu có sẵn sàng hành động trong một môi trường có tính de dọa cao, đặc biệt trong trường hợp xảy ra khiêu khích cấp độ thấp, hay sẽ không chấp nhận rủi ro và rồi rút khỏi cuộc chơi.
Tôi đề xuất các giải pháp, được gọi là các hành động cân bằng:
Hành động cân bằng thứ nhất: Nước Mỹ cần phải học cách chấp nhận rủi ro mà không liều lĩnh. Trung Quốc quá thành thục trong việc làm giảm sút sự tín nhiệm của Mỹ thông qua chiến lược ngoại giao. Rõ ràng Trung Quốc đang mang lại rủi ro cho khu vực, những cố gắng giảm bớt nguy cơ leo thang, dù là một cố gắng cần thiết của Mỹ, nhưng chắc chắn sẽ không mang lại một sự thay đổi đáng kể nào trong cách hành xử của Trung Quốc.
Hành động cân bằng thứ hai: Chấp nhận khả năng leo thang ở một mức độ nào đó trong khi thúc đẩy được sự ổn định. Để chứng tỏ cho Trung Quốc thấy Mỹ không phải không tham gia một cuộc xung đột, chúng ta phải chuyển tải thông điện rằng, dưới những điều kiện nhất định, Mỹ sẵn sàng leo thang tới các cấp độ cao hơn của những cuộc xung đột. Dường như điều đó có vẻ không mấy hợp lý, tuy nhiên, khi nào nhận thấy một mối đe dọa có thể leo thang thì Mỹ sẽ ngăn không để xảy ra xung đột vũ trang trước khi nó bùng nổ, hoặc ít nhất cũng giữ ở cấp độ có thể chấp nhận được.
Nước Mỹ cần phải đảm bảo rằng các nỗ lực làm tăng khả năng sống sót của lực lượng Mỹ không nuôi dưỡng nỗ lực của Trung Quốc hạn chế quyền tiếp cận chính trị của chúng ta. Ví dụ: nếu phản ứng của chúng ta trước một môi trường bị đe dọa là bố trí binh lực và phương tiện ra xa vùng tác chiến, mặc dù hành động này có thể làm giảm trụ cột quân sự của Trung Quốc, nhưng lại khiến các nước nghi ngờ về cam kết của chúng ta với khu vực. Tuy nhiên, nếu giữ quan điểm cứng rắn, nghĩa là tăng sự hiện diện quân sự một cách rõ ràng, và như vậy tăng nguy cơ tổn thương, thì Trung Quốc sẽ phản ứng mạnh mẽ bằng cách trừng phạt các đối tác và đồng minh của Mỹ, mà trong số đó nhiều nước phải phụ thuộc vào Trung Quốc như là nước đối tác thương mại hàng đầu.
Hành động cân bằng thứ ba: Can dự mà không bao vây. Các nhà chiến lược Mỹ phải xem xét lại cách thức đóng quân trong khu vực để một mặt, bảo đảm tăng cường quan hệ của Mỹ với các nước đồng minh, đối tác, đủ độ tin cậy cho Mỹ khuyếch trương sức mạnh nhưng mặt khác cũng giải quyết được mối lo ngại bị kiềm chế của Trung.
Nói tóm lại, nếu chúng ta muốn chống lại chiến lược phòng thủ chủ động của Trung Quốc thì cùng với các công nghệ mới, phương tiện tác chiến mới và lý luận xung đột mới, thì Mỹ cần phải chấp nhận một mức độ rủi ro mà không liều lĩnh, cho phép một khả năng leo thang nhất định trong khi vẫn giữ được ổn định và thúc đẩy sự can dự mà không bao vây. Như Herry Kissinger từng viết trên tờ Washington Post: “Tránh xung đột nghĩa là hỗ trợ các khát vọng quốc gia đạt được tầm nhìn về một trật tự toàn cầu”./.
Còn tiếp...
Anh Minh (Theo USCC)
CH13G-HVHC
Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011
Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2010
Sự thông minh và sự "chậm lớn" của người Việt
Tác giả: Kim Dung, bài đăng trên Vietnamnet
Cây cầu tre - tư duy và cơ chế quản lý xã hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ "tụt hậu" hay "phát triển" cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lý xã hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.
Sau những giờ phút xúc động đến "nghẹn con tim", khi chứng kiến GS Ngô Bảo Châu được vinh danh trên trường quốc tế với Giải thưởng Fields danh giá, và được trong nước vinh danh thành "hiện tượng Ngô Bảo Châu", cũng như trước đây là "hiện tượng" Đặng Thái Sơn- nghệ sĩ biểu diễn piano, giải nhất cuộc thi quốc tế về Frédéric Chopin ở Warszawa (Ba Lan), thì tâm lý người Việt trong chúng ta bỗng chùng xuống, im lặng khi nghĩ về đất nước mình. Nghĩ về những tài năng Việt xa xứ. Đã đành, sự vinh danh vẻ vang GS Ngô Bảo Châu, một người Việt tài năng, thì dân tộc Việt sẽ là dân tộc được thế giới nhắc nhớ đầu tiên.
Nhưng sẽ có một câu hỏi khác, một sự nhắc nhớ khác, khiến chúng ta hổ thẹn. Tại sao người Việt ra thế giới, đi làm thuê cho xứ người, lại thường thành danh, thành đạt? Và tại sao, người Việt chúng ta thông minh thế, mang tiếng tài nguyên rừng vàng biển bạc thế, phải cho nước ngoài khai phá...mà đất nước vẫn luẩn quẩn với cái nghèo, chậm phát triển, nay lại còn tụt hậu so với khu vực?
Một chuyên gia người Việt của tổ chức Ngân hàng Thế giới từng đặt câu hỏi: "Ta cứ hay vin vào chiến tranh. Thế nhưng chiến tranh đã lùi xa sau 35 năm, tại sao đến giờ, thu nhập bình quân/ người Việt/ năm mới đạt 1.000 USD. Trong khi đó, các quốc gia như Đức, Nhật, Ba Lan, Tiệp Khắc bị tàn phá thảm hại sau chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng sau 35 năm họ đã thành cường quốc kinh tế, thu nhập bình quân đạt trên 10.000 USD/ người/ năm".
Chiến tranh liệu có thể mãi là "bình phong" để cho ta che đậy sự kém cỏi? Điều gì là vật cản khiến tố chất thông minh của người Việt không "phát" lên được, không biến thành tài nguyên chất xám làm giàu cho nước Việt, thành vòng nguyệt quế kiêu hãnh trên vầng trán nước Việt, khi mà rất nhiều quốc gia tương tự như ta, đều đang ngẩng đầu tiến về phía trước?
"Người nọ ngoi lên, người kia kéo xuống"- ngụ ngôn hay cuộc đời?
Khi đặt câu hỏi này, người viết bài tự nhiên nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn hiện đại: Có chiếc tàu đắm ngoài khơi xa, tàu cứu hộ được điều đến để cứu hành khách đang ngoi ngóp dưới biển. Người các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore...lần lượt được cứu thoát, bởi người nọ làm bệ đỡ cho người kia ngoi lên. Nhưng hành khách là người Việt Nam, cứ người nọ ngoi lên, thì lập tức bị đồng loại- người kia kéo xuống. Vì thế mà cuối cùng hành khách là người Việt Nam chết hết.
Ngụ ngôn đắm tàu hay sự thật về cuộc đời? Ảnh minh họa
Câu chuyện triết lý bi thảm về tính cách một dân tộc thật chua xót. Nhưng chắc chắn, nó "ngụ ngôn" trên cơ sở có thật. Hay nó bước ra cuộc đời, từ "ngụ ngôn" để trở thành tính cách người Việt?
Không biết có phải vì quá thấm thía về câu chuyện ngụ ngôn, quá hiểu tính cách người Việt không, mà khi được đặt câu hỏi đề cập việc có chính sách quy hoạch bồi dưỡng cho những chuyên gia giỏi tuổi còn trẻ, một vị sếp cỡ Bộ trưởng lắc đầu quầy quậy: "Không được đâu chị ơi. Cứ "dàn hàng ngang cùng tiến" thì không sao. Chứ đụng vào chuyện quy hoạch, bồi dưỡng người nọ người kia là chết ngay!"
Chẳng biết ông có chịu để "chết" không, nhưng rõ ràng, cơ quan ông "chết" vì những người giỏi cũng chẳng thể bật được lên do chính sách cào bằng, "dàn hàng ngang mà tiến". Hòa cả làng! Và cho nó...lành!
Chắc chắn câu chuyện và tâm lý của vị Bộ trưởng trên không phải là cá biệt. Mà đó cũng mới là chuyện xây dựng đội ngũ chuyên gia, không phải quy hoạch đội ngũ quản lý.
Còn chuyện mới đây: Tại Hội nghị về chiến lược quản lý nhân sự do báo VNN và VN500 tổ chức, người ta nêu ra một vấn đề đáng chú ý. Nhiều công ty có tầm cỡ đang hoạt động trong nước ta cho biết, họ thường có vấn đề với nhân sự trung và cao cấp mà họ rất cần. Tại sao lại như vậy? Theo ông Trần Sĩ Chương, Chủ tịch HĐQT Công ty ABBO, trong tất cả các cái "thiếu" có lẽ cái thiếu "tinh thần đồng đội" là quan trọng hơn cả.
"Nhiều nhà quan sát lịch sử Việt Nam cho rằng đây là một nghịch lý đáng ngạc nhiên. Dân tộc Việt Nam khi cần đã chứng minh được một khả năng đoàn kết cao độ trong các cuộc kháng chiến giành độc lập cực kỳ khó khăn, gian khổ.
Vậy mà từ người Pháp trước đây, rồi người Mỹ và nhiều người ngoại quốc khác sau này khi có cơ hội làm việc, tiếp xúc với người Việt lại có nhận xét, "một cá nhân người Việt thì có thể hơn một người khác nhưng ba người Việt ngồi lại thì... lại có vấn đề!".
Cũng theo ông Trần Sĩ Chương, các nhà xã hội học dựa vào thuyết "Con người là sản phẩm của môi trường sống", hiện tượng này là do sự bất ổn định của hoàn cảnh lịch sử xã hội. Khi sống trong một xã hội có truyền thống bất ổn định thì con người với bản chất sinh tồn bẩm sinh sẽ có khuynh hướng muốn hành động tự phát, thiếu lòng tin vào tập thể, vào tương lai.
Từ đó, người ta không muốn đầu tư vào những cam kết, đầu tư và gắn bó xã hội có tính lâu dài thậm chí có khi còn "đạp lên nhau để sống".
Tuy nhiên, ông Trần Sĩ Chương chưa nêu được cái gốc của tố chất này. Nền văn minh của nước Việt là văn minh lúa nước. Dân tộc Việt có tới 80% dân số làm nghề nông. Một nét đặc thù của tư duy nông nghiệp là tư duy tư hữu; là "con gà tức nhau tiếng gáy", "sân gạch nhà ông không thể cao hơn sân gạch nhà tôi"...
Chính tố chất "tư hữu đậm đặc" này tuy lặn sâu trong tiềm thức con người Việt, khó "điểm mặt chỉ tên", nhưng nó lại luôn kề vai sát cánh với mỗi người Việt cho dù họ đã là trí thức, từ cơ quan nghiên cứu đến công sở...và nó là "người tình" trăm năm thủ thỉ, gắn bó với ta khi ta cộng tác, làm việc với đồng nghiệp, bằng hữu. Bỗng nhớ tới một câu "ngụ ngôn" khác sâu cay không kém: "Trong cái sự mất đoàn kết, thì trí thức là hay mất đoàn kết nhất, rồi mới đến...đàn bà"(!).
"Gieo tư duy gặt số phận"?
Tính cách người Việt ấy, lại được đặt trong một cơ chế và tư duy quản lý ra sao?
Khi bàn về sự lận đận, yếu kém và sự tụt hậu của xã hội chúng ta trong những năm tháng thách thức nghiệt ngã này, có nhà thơ đã nói: Hình như con người có số phận, thì dân tộc cũng có số phận?
Bỗng nhớ tới câu chiêm nghiệm về luật nhân- quả của đạo Phật, răn dạy con người ở kiếp nhân sinh: "Gieo tính cách, gặt số phận". Nhưng luật Đời cũng luôn cảnh báo cho bất cứ dân tộc nào- gieo tư duy gặt số phận?
Tư duy của dân tộc Việt chúng ta đã từng đổi mới để thích ứng với đòi hỏi của thời hiện đại, từ bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Nhưng công bằng mà nói, tư duy đó thực chất vẫn không thoát khỏi dấu ấn tiểu nông, gia trưởng. Trong tố chất "tính cộng đồng" còn tồn tại cả tố chất "bầy đàn", hình thành nên trên hình thái lao động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công, không vượt khỏi tầm chắn của lũy tre làng.
Đừng để sự "chậm lớn" của người Việt cũng thành một "hiện tượng", nhưng là "hiện tượng" buồn! Ảnh minh họa
Chính tư duy "bầy đàn" và trọng hư danh của con người tiểu nông, khi có quyền lực, dễ trở nên e ngại, phòng ngừa với những người có tư duy độc lập khác với số đông. Thời nào, và dân tộc nào cũng vậy, luôn có những con người thông minh, trí tuệ, luôn có những con người biết nhìn ra sớm hơn cộng đồng mình, dám nhận thức bằng sự kiểm chứng thực tiễn. Nhưng tư duy tiểu nông khi cực đoan, dễ nghi ngờ, hoặc đánh đồng sự "khác biệt" của người tài là sự đối trọng, thậm chí đối nghịch.
Cơ chế quản lý xã hội, một khi được xây nên từ tư duy tiểu nông ấy, tạo nên một hệ thống chân rết cũng sẽ khó chấp nhận những cá tính sáng tạo, mà chỉ thích sự 'cào bằng" và sự nghe lời. Khi ấy thì sự thông minh, năng lực sáng tạo, và niềm tin lý tưởng chân lý là thực tiễn, rất có thể trở thành bi kịch cho chính người tài, nếu không, chí ít anh ta cũng trở nên hoặc đơn độc, hoặc bị vô hiệu hóa trong cộng đồng.
Tư duy và cơ chế quản lý "cào bằng" ấy tạo ra sự bất công với những người tài, chỉ gặt hái được sự a dua cơ hội của sự háo danh, sự vô cảm của số đông và làm thui chột tài năng sáng tạo thực chất. Đó chính là nguyên nhân sâu xa, tạo ra "hố sâu" ngăn cách giữa hai bờ tụt hậu và phát triển. Một dân tộc có nhiều người thông minh như dân tộc Việt, vẫn có thể là dân tộc "chậm lớn" vì thế.
Liệu dân tộc Việt chúng ta có vượt lên được chính mình không?
Nhìn ra thế giới, ông Trần Sĩ Chương cho rằng, mặc dù cá nhân người dân Nhật không được tiếng học giỏi, lanh lợi như người Ấn, người Hoa hay so với người Việt chúng ta...nhưng theo ông Chương, điều kiện "công bằng trong xã hội" là một yếu tố quyết định để mọi cá nhân có lòng tin sự đóng góp của mình được ghi nhận một cách sòng phẳng, được đền bù xứng đáng về mặt vật chất lẫn tinh thần.
"Từ đó, con người mới tin vào ý nghĩa của sự đoàn kết, đem lại cái tổng giá trị lớn hơn từng giá trị của cá nhân đứng riêng lẻ cộng lại và cá nhân họ "được" nhiều hơn là nếu chỉ nghĩ đến mình. Con người bất cứ ở đâu, nếu sống trong một điều kiện xã hội còn nhiều bất công thì sẽ khó sống trung thực. Từ đó sự tự trọng, tương kính cũng sẽ không có.
Trong xã hội Mỹ, cá nhân chủ nghĩa, tinh thần cầu lợi có lẽ cao hơn bất cứ xã hội nào khác. Nhưng họ may mắn có được một cơ chế xã hội mà đa số người ta tin là công bằng. Câu phản biện đầu môi, hữu hiệu nhất của một người Mỹ (ngay cả những đứa trẻ con) đối với người khác khi tranh luận một vấn đề là vịn vào cái lý lẽ "That's not fair!" (Thế là không công bằng đâu nhé!)"(VNR500,12/8/2010)
Như vậy, tư duy và cơ chế quản lý xã hội hay hoặc dở, hoàn thiện hay khiếm khuyết, tất yếu dẫn đến hoặc kết quả hoặc hệ lụy khác nhau căn cứ vào việc sử dụng người, đặc biệt là những người tài. Mà đối với những người tài, nhất là các nhà khoa học, trí thức lớn, không chỉ đồng lương, quan trọng hơn là được tự do học thuật, tự do sáng tạo. Việc sử dụng những người tài, đòi hỏi những nhà quản lý có tầm, có tâm, biết tôn trọng lao động sáng tạo và..."không sợ họ".
Cơ chế quản lý xã hội nặng tính cào bằng, thậm chí các thang bậc giá trị trắng đen lẫn lộn, sớm muộn cũng gây ra những bất công, làm ly tán lòng người. Nhiều người tài, cũng từ sự bất công đó mà ra đi. Sự suy yếu, tụt hậu của dân tộc là không tránh khỏi
Cơ chế quản lý xã hội công bằng, là động lực kích thích mọi người làm việc, khiến người tài tin tưởng, dốc lòng cống hiến. Không gọi, dù xa xứ, sớm muộn họ cũng sẽ quay về. Sự phát triển của dân tộc là tất yếu.
Không ai có thể quyết định số phận dân tộc Việt bằng chính người Việt. Cây cầu tre- tư duy và cơ chế quản lý xã hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ "tụt hậu" hay "phát triển" cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lý xã hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.
Khi đó mới có thể kỳ vọng, sự thông minh song hành với sự lớn nhanh của người Việt, cũng tức là song hành với sự phát triển mạnh của dân tộc.
Xin đừng để sự "chậm lớn" của người Việt cũng thành một "hiện tượng", nhưng là "hiện tượng" buồn!
Cây cầu tre - tư duy và cơ chế quản lý xã hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ "tụt hậu" hay "phát triển" cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lý xã hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.
Sau những giờ phút xúc động đến "nghẹn con tim", khi chứng kiến GS Ngô Bảo Châu được vinh danh trên trường quốc tế với Giải thưởng Fields danh giá, và được trong nước vinh danh thành "hiện tượng Ngô Bảo Châu", cũng như trước đây là "hiện tượng" Đặng Thái Sơn- nghệ sĩ biểu diễn piano, giải nhất cuộc thi quốc tế về Frédéric Chopin ở Warszawa (Ba Lan), thì tâm lý người Việt trong chúng ta bỗng chùng xuống, im lặng khi nghĩ về đất nước mình. Nghĩ về những tài năng Việt xa xứ. Đã đành, sự vinh danh vẻ vang GS Ngô Bảo Châu, một người Việt tài năng, thì dân tộc Việt sẽ là dân tộc được thế giới nhắc nhớ đầu tiên.
Nhưng sẽ có một câu hỏi khác, một sự nhắc nhớ khác, khiến chúng ta hổ thẹn. Tại sao người Việt ra thế giới, đi làm thuê cho xứ người, lại thường thành danh, thành đạt? Và tại sao, người Việt chúng ta thông minh thế, mang tiếng tài nguyên rừng vàng biển bạc thế, phải cho nước ngoài khai phá...mà đất nước vẫn luẩn quẩn với cái nghèo, chậm phát triển, nay lại còn tụt hậu so với khu vực?
Một chuyên gia người Việt của tổ chức Ngân hàng Thế giới từng đặt câu hỏi: "Ta cứ hay vin vào chiến tranh. Thế nhưng chiến tranh đã lùi xa sau 35 năm, tại sao đến giờ, thu nhập bình quân/ người Việt/ năm mới đạt 1.000 USD. Trong khi đó, các quốc gia như Đức, Nhật, Ba Lan, Tiệp Khắc bị tàn phá thảm hại sau chiến tranh thế giới thứ 2 nhưng sau 35 năm họ đã thành cường quốc kinh tế, thu nhập bình quân đạt trên 10.000 USD/ người/ năm".
Chiến tranh liệu có thể mãi là "bình phong" để cho ta che đậy sự kém cỏi? Điều gì là vật cản khiến tố chất thông minh của người Việt không "phát" lên được, không biến thành tài nguyên chất xám làm giàu cho nước Việt, thành vòng nguyệt quế kiêu hãnh trên vầng trán nước Việt, khi mà rất nhiều quốc gia tương tự như ta, đều đang ngẩng đầu tiến về phía trước?
"Người nọ ngoi lên, người kia kéo xuống"- ngụ ngôn hay cuộc đời?
Khi đặt câu hỏi này, người viết bài tự nhiên nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn hiện đại: Có chiếc tàu đắm ngoài khơi xa, tàu cứu hộ được điều đến để cứu hành khách đang ngoi ngóp dưới biển. Người các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore...lần lượt được cứu thoát, bởi người nọ làm bệ đỡ cho người kia ngoi lên. Nhưng hành khách là người Việt Nam, cứ người nọ ngoi lên, thì lập tức bị đồng loại- người kia kéo xuống. Vì thế mà cuối cùng hành khách là người Việt Nam chết hết.
Ngụ ngôn đắm tàu hay sự thật về cuộc đời? Ảnh minh họa
Câu chuyện triết lý bi thảm về tính cách một dân tộc thật chua xót. Nhưng chắc chắn, nó "ngụ ngôn" trên cơ sở có thật. Hay nó bước ra cuộc đời, từ "ngụ ngôn" để trở thành tính cách người Việt?
Không biết có phải vì quá thấm thía về câu chuyện ngụ ngôn, quá hiểu tính cách người Việt không, mà khi được đặt câu hỏi đề cập việc có chính sách quy hoạch bồi dưỡng cho những chuyên gia giỏi tuổi còn trẻ, một vị sếp cỡ Bộ trưởng lắc đầu quầy quậy: "Không được đâu chị ơi. Cứ "dàn hàng ngang cùng tiến" thì không sao. Chứ đụng vào chuyện quy hoạch, bồi dưỡng người nọ người kia là chết ngay!"
Chẳng biết ông có chịu để "chết" không, nhưng rõ ràng, cơ quan ông "chết" vì những người giỏi cũng chẳng thể bật được lên do chính sách cào bằng, "dàn hàng ngang mà tiến". Hòa cả làng! Và cho nó...lành!
Chắc chắn câu chuyện và tâm lý của vị Bộ trưởng trên không phải là cá biệt. Mà đó cũng mới là chuyện xây dựng đội ngũ chuyên gia, không phải quy hoạch đội ngũ quản lý.
Còn chuyện mới đây: Tại Hội nghị về chiến lược quản lý nhân sự do báo VNN và VN500 tổ chức, người ta nêu ra một vấn đề đáng chú ý. Nhiều công ty có tầm cỡ đang hoạt động trong nước ta cho biết, họ thường có vấn đề với nhân sự trung và cao cấp mà họ rất cần. Tại sao lại như vậy? Theo ông Trần Sĩ Chương, Chủ tịch HĐQT Công ty ABBO, trong tất cả các cái "thiếu" có lẽ cái thiếu "tinh thần đồng đội" là quan trọng hơn cả.
"Nhiều nhà quan sát lịch sử Việt Nam cho rằng đây là một nghịch lý đáng ngạc nhiên. Dân tộc Việt Nam khi cần đã chứng minh được một khả năng đoàn kết cao độ trong các cuộc kháng chiến giành độc lập cực kỳ khó khăn, gian khổ.
Vậy mà từ người Pháp trước đây, rồi người Mỹ và nhiều người ngoại quốc khác sau này khi có cơ hội làm việc, tiếp xúc với người Việt lại có nhận xét, "một cá nhân người Việt thì có thể hơn một người khác nhưng ba người Việt ngồi lại thì... lại có vấn đề!".
Cũng theo ông Trần Sĩ Chương, các nhà xã hội học dựa vào thuyết "Con người là sản phẩm của môi trường sống", hiện tượng này là do sự bất ổn định của hoàn cảnh lịch sử xã hội. Khi sống trong một xã hội có truyền thống bất ổn định thì con người với bản chất sinh tồn bẩm sinh sẽ có khuynh hướng muốn hành động tự phát, thiếu lòng tin vào tập thể, vào tương lai.
Từ đó, người ta không muốn đầu tư vào những cam kết, đầu tư và gắn bó xã hội có tính lâu dài thậm chí có khi còn "đạp lên nhau để sống".
Tuy nhiên, ông Trần Sĩ Chương chưa nêu được cái gốc của tố chất này. Nền văn minh của nước Việt là văn minh lúa nước. Dân tộc Việt có tới 80% dân số làm nghề nông. Một nét đặc thù của tư duy nông nghiệp là tư duy tư hữu; là "con gà tức nhau tiếng gáy", "sân gạch nhà ông không thể cao hơn sân gạch nhà tôi"...
Chính tố chất "tư hữu đậm đặc" này tuy lặn sâu trong tiềm thức con người Việt, khó "điểm mặt chỉ tên", nhưng nó lại luôn kề vai sát cánh với mỗi người Việt cho dù họ đã là trí thức, từ cơ quan nghiên cứu đến công sở...và nó là "người tình" trăm năm thủ thỉ, gắn bó với ta khi ta cộng tác, làm việc với đồng nghiệp, bằng hữu. Bỗng nhớ tới một câu "ngụ ngôn" khác sâu cay không kém: "Trong cái sự mất đoàn kết, thì trí thức là hay mất đoàn kết nhất, rồi mới đến...đàn bà"(!).
"Gieo tư duy gặt số phận"?
Tính cách người Việt ấy, lại được đặt trong một cơ chế và tư duy quản lý ra sao?
Khi bàn về sự lận đận, yếu kém và sự tụt hậu của xã hội chúng ta trong những năm tháng thách thức nghiệt ngã này, có nhà thơ đã nói: Hình như con người có số phận, thì dân tộc cũng có số phận?
Bỗng nhớ tới câu chiêm nghiệm về luật nhân- quả của đạo Phật, răn dạy con người ở kiếp nhân sinh: "Gieo tính cách, gặt số phận". Nhưng luật Đời cũng luôn cảnh báo cho bất cứ dân tộc nào- gieo tư duy gặt số phận?
Tư duy của dân tộc Việt chúng ta đã từng đổi mới để thích ứng với đòi hỏi của thời hiện đại, từ bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Nhưng công bằng mà nói, tư duy đó thực chất vẫn không thoát khỏi dấu ấn tiểu nông, gia trưởng. Trong tố chất "tính cộng đồng" còn tồn tại cả tố chất "bầy đàn", hình thành nên trên hình thái lao động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công, không vượt khỏi tầm chắn của lũy tre làng.
Đừng để sự "chậm lớn" của người Việt cũng thành một "hiện tượng", nhưng là "hiện tượng" buồn! Ảnh minh họa
Chính tư duy "bầy đàn" và trọng hư danh của con người tiểu nông, khi có quyền lực, dễ trở nên e ngại, phòng ngừa với những người có tư duy độc lập khác với số đông. Thời nào, và dân tộc nào cũng vậy, luôn có những con người thông minh, trí tuệ, luôn có những con người biết nhìn ra sớm hơn cộng đồng mình, dám nhận thức bằng sự kiểm chứng thực tiễn. Nhưng tư duy tiểu nông khi cực đoan, dễ nghi ngờ, hoặc đánh đồng sự "khác biệt" của người tài là sự đối trọng, thậm chí đối nghịch.
Cơ chế quản lý xã hội, một khi được xây nên từ tư duy tiểu nông ấy, tạo nên một hệ thống chân rết cũng sẽ khó chấp nhận những cá tính sáng tạo, mà chỉ thích sự 'cào bằng" và sự nghe lời. Khi ấy thì sự thông minh, năng lực sáng tạo, và niềm tin lý tưởng chân lý là thực tiễn, rất có thể trở thành bi kịch cho chính người tài, nếu không, chí ít anh ta cũng trở nên hoặc đơn độc, hoặc bị vô hiệu hóa trong cộng đồng.
Tư duy và cơ chế quản lý "cào bằng" ấy tạo ra sự bất công với những người tài, chỉ gặt hái được sự a dua cơ hội của sự háo danh, sự vô cảm của số đông và làm thui chột tài năng sáng tạo thực chất. Đó chính là nguyên nhân sâu xa, tạo ra "hố sâu" ngăn cách giữa hai bờ tụt hậu và phát triển. Một dân tộc có nhiều người thông minh như dân tộc Việt, vẫn có thể là dân tộc "chậm lớn" vì thế.
Liệu dân tộc Việt chúng ta có vượt lên được chính mình không?
Nhìn ra thế giới, ông Trần Sĩ Chương cho rằng, mặc dù cá nhân người dân Nhật không được tiếng học giỏi, lanh lợi như người Ấn, người Hoa hay so với người Việt chúng ta...nhưng theo ông Chương, điều kiện "công bằng trong xã hội" là một yếu tố quyết định để mọi cá nhân có lòng tin sự đóng góp của mình được ghi nhận một cách sòng phẳng, được đền bù xứng đáng về mặt vật chất lẫn tinh thần.
"Từ đó, con người mới tin vào ý nghĩa của sự đoàn kết, đem lại cái tổng giá trị lớn hơn từng giá trị của cá nhân đứng riêng lẻ cộng lại và cá nhân họ "được" nhiều hơn là nếu chỉ nghĩ đến mình. Con người bất cứ ở đâu, nếu sống trong một điều kiện xã hội còn nhiều bất công thì sẽ khó sống trung thực. Từ đó sự tự trọng, tương kính cũng sẽ không có.
Trong xã hội Mỹ, cá nhân chủ nghĩa, tinh thần cầu lợi có lẽ cao hơn bất cứ xã hội nào khác. Nhưng họ may mắn có được một cơ chế xã hội mà đa số người ta tin là công bằng. Câu phản biện đầu môi, hữu hiệu nhất của một người Mỹ (ngay cả những đứa trẻ con) đối với người khác khi tranh luận một vấn đề là vịn vào cái lý lẽ "That's not fair!" (Thế là không công bằng đâu nhé!)"(VNR500,12/8/2010)
Như vậy, tư duy và cơ chế quản lý xã hội hay hoặc dở, hoàn thiện hay khiếm khuyết, tất yếu dẫn đến hoặc kết quả hoặc hệ lụy khác nhau căn cứ vào việc sử dụng người, đặc biệt là những người tài. Mà đối với những người tài, nhất là các nhà khoa học, trí thức lớn, không chỉ đồng lương, quan trọng hơn là được tự do học thuật, tự do sáng tạo. Việc sử dụng những người tài, đòi hỏi những nhà quản lý có tầm, có tâm, biết tôn trọng lao động sáng tạo và..."không sợ họ".
Cơ chế quản lý xã hội nặng tính cào bằng, thậm chí các thang bậc giá trị trắng đen lẫn lộn, sớm muộn cũng gây ra những bất công, làm ly tán lòng người. Nhiều người tài, cũng từ sự bất công đó mà ra đi. Sự suy yếu, tụt hậu của dân tộc là không tránh khỏi
Cơ chế quản lý xã hội công bằng, là động lực kích thích mọi người làm việc, khiến người tài tin tưởng, dốc lòng cống hiến. Không gọi, dù xa xứ, sớm muộn họ cũng sẽ quay về. Sự phát triển của dân tộc là tất yếu.
Không ai có thể quyết định số phận dân tộc Việt bằng chính người Việt. Cây cầu tre- tư duy và cơ chế quản lý xã hội tiểu nông bắc giữa hố sâu của 2 bờ "tụt hậu" hay "phát triển" cần được thay đổi, được đổi mới bằng cây cầu hiện đại- tư duy và quản lý xã hội gắn kết dân chủ, công bằng, văn minh và minh bạch.
Khi đó mới có thể kỳ vọng, sự thông minh song hành với sự lớn nhanh của người Việt, cũng tức là song hành với sự phát triển mạnh của dân tộc.
Xin đừng để sự "chậm lớn" của người Việt cũng thành một "hiện tượng", nhưng là "hiện tượng" buồn!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)